Bằng tinh thần năng động, sáng tạo, đi thẳng vào công nghệ hiện đại, theo hướng số hoá, tự động hoá, đa dạng hoá dịch vụ, đến cuối năm 1995, kết thúc kế hoạch tăng tốc giai đoạn I (1993-1995), hệ thống tổng đài và truyền dẫn trên toàn mạng viễn thông đã được số hoá hoàn toàn.
Đây là 1 thành tựu lớn mà không phải bất cứ 1 nước nào ở Đông Nam á có thể đạt được trong 1 khoảng thời gian ngắn như vậy. Đến nay, tổng số thuê bao điện thoại đã tăng gấp hơn 20 lần so với 1991 với trên 98% số xã có điện thoại trên toàn quốc. Mật độ đạt điện đạt trên 18 máy/ 100 dân.
Năm 2010: Phấn đấu đạt 32 - 42 máy điện thoại/ 100 dân
Tại buổi hội thảo của triển lãm Comnet Vietnam diễn ra từ ngày 14-15/12 vừa qua, ông Nguyễn Thành Phúc - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược BCVT & CNTT đã đưa ra một số chỉ tiêu định hướng phát triển mạng Viễn thông và Internet đến năm 2010.
Để hội nhập với các nước trên thế giới, mục tiêu phát triển viễn thông và Internet ở Việt Nam là phải có 1 cơ sở hạ tầng với công nghệ hiện đại, có độ bao phủ rộng khắp trên cả nước. Tốc độ tăng trưởng phải cao cấp 1,5 - 2 lần so với tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế. Tổng doanh thu dịch vụ viễn thông và Internet vào năm 2010 đạt khoảng 55 nghìn tỷ đồng (~3,5 tỷ USD). Các dịch vụ viễn thông và Internet sẽ phải đa dạng hơn, chất lượng hơn với giá cước tương đương và thấp hơn khu vực.
Đến năm 2010, Việt Nam phấn đấu đạt mật độ điện thoại từ 32-42 máy/ 100 dân trong đó cố định đạt từ 14-16 máy. Mật độ thuê bao Internet đạt 8-12 thuê bao/ 100 dân, tỷ lệ sử dụng Internet đạt trên 25-35%. Tại các thành phố từng bưước triển khai mạng cáp quang đến khu dân cưư và cáp quang đến các toà nhà. Mạng điện thoại di động phủ sóng đến hầu hết các xã trong vùng kinh tế trọng điểm và tất cả các tuyến đưường giao thông quốc lộ, nội tỉnh.
Đến năm này, cán bộ, công chức, viên chức, giáo viên tất cả các cấp, bác sỹ, y sỹ, sinh viên đại học và cao đẳng, học sinh trung học và 50% học sinh trung học cơ sở phải đảm bảo đại đa số có điều kiện sử dụng Internet. Dịch vụ điện thoại cố định và Internet phải được phổ cập đến tất cả các xã. 100% các điểm BưĐ-VH xã và các trung tâm giáo dục cộng đồng đưược kết nối Internet; 100% số huyện và nhiều xã trong cả nưước đưược phục vụ dịch vụ băng rộng; 100% viện nghiên cứu, trưường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và trung học phổ thông có truy nhập Internet tốc độ cao; trên 90% các trưường trung học cơ sở, bệnh viện đưược kết nối Internet.
Tạo lập thị trưường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế tham gia thị trường dịch vụ viễn thông và Internet; Đến năm 2010, thị phần của các doanh nghiệp mới (ngoài VNPT) đạt 40-50 %; Các doanh nghiệp viễn thông và Internet Việt Nam đưược tạo điều kiện và khuyến khích khai thác có hiệu quả thị trường trong nưước, tiến tới mở rộng kinh doanh ra thị trường nưước ngoài...
... Hiện trạng
Hiện nay, thị trường viễn thông Việt Nam đã có 6 nhà cung cấp dịch vụ bưu chính viễn thông và CNTT, trong đó có 5 nhà cung cấp dịch vụ thông tin di động là VNPT, Viettel, EVNT, Hanoi Telecom, S-Fone và 8 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet. Tính đến nay, tổng số thuê bao điện thoại của Việt Nam đạt khoảng 15,02 triệu máy điện thoại (mật độ gần 18 máy/100 dân), trong đó thuê bao di động chiếm gần 56,3%. Về Internet, đến tháng 10/2005, đã có gần 9 triệu người sử dụng đạt tỷ lệ xấp xỉ 11%.
Các mạng viễn thông của Việt Nam đang có những bước tăng trưởng khá mạnh mẽ, thị trường di động đang trên đà tăng mạnh trong 9 tháng đầu năm 2005 với lượng thuê bao mới tăng 46% so với cùng kỳ năm ngoái.
Hiện, Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) đang quản lý và khai thác trên 12 triệu thuê bao điện thoại, chiếm gần 90% thị phần Việt Nam, trong đó 82,4% thị phần điện thoại di động (6,1 triệu thuê bao), trên 53% thị phần Internet (gần 1,3 triệu thuê bao quy đổi), sản lượng điện thoại quốc tế chiếm trên 61% thị phần. VNPT đang là nhà khai thác các dịch vụ viễn thông lớn nhất trong cả nước.
Tổng công ty Viễn thông Quân đội (Viettel) là một gương mặt mới nhưng đến nay, Viettel đã đạt trên 1.000.000 thuê bao, chiếm 13,5% thị phần trên thị trường Viễn thông Việt Nam. Viettel đang là nhà cung cấp dịch vụ viễn thông đứng thứ hai.
Thị trường điện thoại cố định tại Việt Nam tăng trưởng ở mức 26% trong năm 2004, đạt mức tăng trưởng cao, với mật độ máy là 6,8%. Dự báo đến cuối năm 2005 sẽ tăng thêm được khoảng 1,3 triệu thuê bao và 1,75 triệu thuê bao trong năm 2006, với mật độ trên 10% vào quý 4 năm 2006.
Một số giải pháp cơ bản
Để thực hiện được những chỉ tiêu trên thì cần phải có nhiều giải pháp. Theo Nguyễn Thành Phúc - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược BCVT & CNTT, các nhóm giải pháp chính là "chính sách quản lý bình đẳng các nguồn tài nguyên quốc gia như phổ tần số vô tuyến điện, kho số, mã số, tên miền, địa chỉ Internet... để tạo ra thị trường cạnh tranh lành mạnh".
Một vấn đề luôn được quan tâm là giá cước, TS. Nguyễn Thành Phúc đưa ra giải pháp: "Giá cước kết nối được xây dựng trên cơ sở giá thành, xác định rõ phần đóng góp cho việc cung cấp dịch vụ viễn thông công ích trong giá cước kết nối". Trong thời gian vừa qua, các mạng viễn thông của Việt Nam cũng đã và đang có những mức điều chỉnh cước cho hợp lý, tăng sức cạnh tranh và đảm bảo giá cước thấp hơn và ngang bằng với khu vực.
Ông Phúc cũng đã đưa ra nhiều giải pháp khác như: nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN trong nước, bảo đảm hội nhập thắng lợi; phổ cập dịch vụ, bảo đảm thông tin liên lạc cho các cơ quan Đảng, Nhà nước. Song song với đó là chú trọng đến việc "bảo vệ quyền lợi cho người sử dụng dịch vụ viễn thông và Internet".
Trong thời gian qua, một trong những biện pháp và các mạng viễn thông đang tích cực triển khai là không ngừng đầu tư, nâng cấp mạng lưới, mở rộng dung lượng nhằm đáp ứng đủ số lượng phát triển thuê bao và đảm bảo chất lượng dịch vụ. Cũng có thể kể đến 1 vài ví dụ như: mạng MobiFone đã triển khai các dịch vụ GPRS và MMS vào tháng 7/2004, bước đầu cho các thuê bao trả trước và sau ở Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh. MobiFone cho biết việc tung ra dịch vụ công nghệ 2,5 G này là bước dọn đường cho công nghệ 3G. Từ năm 2004 đến 2006, công ty sẽ đầu tư khoảng 100 triệu USD cho các hoạt động tiếp thị cho 3G.
Mạng Viettel cũng dự kiến sẽ mở rộng lên khoảng 1.000 trạm trong năm 2005.
Cùng với sự đầu tư nâng cấp mạng lưới, các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông trên thị trường Việt Nam đã đưa ra nhiều hình thức khuyến mãi khác nhau nhằm thu hút khách hàng, tạo đà cạnh tranh và điều này cũng đồng nghĩa với việc số lượng thuê bao sẽ tăng lên đáng kể.
Trong thời gian vừa qua, VNPT đã đưa cổng vệ tinh đầu tiên (VSAT-IP) vào hoạt động. Điều này được xem là giải pháp hữu hiệu trước mắt góp phần quan trọng trong việc phổ cập dịch vụ viễn thông và Internet băng rộng tới nông thôn, vùng sâu, vùng xa của Việt Nam.
Theo đánh giá của các chuyên gia viễn thông thì VSAT-IP là giải pháp hiệu quả có thể rút ngắn khoảng cách phổ cập viễn thông xuống vùng sâu, vùng xa. Hiện nay, cả nước đã có 9.006/9.198 xã có điện thoại. Các xã còn lại chưa có điện thoại chủ yếu là các xã ở vùng sâu, vùng xa có địa hình phức tạp nên khó khăn khi triển khai lắp đặt các thiết bị viễn thông khác. Chính vì vậy, việc triển khai hệ thống VSAT-IP sẽ giúp VNPT sớm hoàn thành mục tiêu 100% xã có điện thoại vào năm 2005 và là cơ sở để triển khai các dịch vụ viễn thông rộng rãi tới các vùng sâu, vùng xa.
Nỗ lực phấn đấu không ngừng của các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông và Internet, Việt Nam hoàn toàn có thể hy vọng đến năm 2010 sẽ đạt được các mục tiêu đã nêu trên.
MP
0
Bạn đã cho điểm thành công!
Chưa có bình chọn nào cho bài viết này!